EnglishTiếng Việt

Dong Nai Honey

Công nghệ thu hoạch và chế biến mật ong

E-mail Print PDF
Hình Minh Họa

1. Thành phần mật ong, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng mật ong:

a)  Định nghĩa:

Mật ong là một chất ngọt do ong và một số côn trùng sống trong xã hội chế tạo ra từ mật hoa hoặc dịch ngọt mà chúng lấy từ cây đang sống mang về, rồi chế biến bằng cách cho bốc hơi nước và tác động enzim do chúng tiết ra. Thông thường ong vít nắp lỗ tổ chứa mật thì mật đã được hoàn thiện.

b) Thành phần của mật:

Bao gồm nước, đường(chủ yếu là đường đơn), đạm, các acid hữu cơ, men, vitamin và chất khoáng.

- Nước: là một trong những chỉ tiêu quan trọng của mật ong, tỷ lệ nước trong mật ong thế giới từ 16 đến 22%, trung bình là 20%. Mật ong Việt Nam có tỷ lệ nước khá cao: ong Ý là 22%, ong nội là 22-28%. Khi hàm lượng nước dưới 19% thì mật ong không bị lên men và có thể bảo quản được lâu. Hàm lượng nước càng cao thì mật càng dễ lên men và nhanh bị chua, giảm chất lượng mật.

- Đường: Là thành phần chính của mật ong, có 3 loại đường chủ yếu là gluco, fructo và sacaro.

- Gluco và fructo là 2 loại đường đơn chiếm tỷ lệ khoảng 65-70% trong mật, fructo có độ ngọt cao hơn gluco và khó kết tinh nên loại mật nào có hàm lượng này cao thì để lâu vẫn giữ được trạng thái lỏng. Khi ăn mật ong, 2 loại đường này cơ thể rất dễ hấp thụ trực tiếp mà không cần men phân huỷ.

- Sacaro còn gọi là đường mía, là một loại đường đa nên không được cơ thể hấp thụ ngay vào máu được. Ngoài ra trong mật ong còn có khoảng 3-4% dextrin là sản phẩm phân huỷ của tinh bột có trong mật hoa, chất này không có vị ngọt. Mật ong đã chín có hàm lượng sacaro cao.

- Protein(chất đạm): có từ 0,04-0,3%, trung bình là 0,1%. Protein bao gồm protein thô và các acid amin(16 loại). Nguồn gốc các protein này có trong mật hoa và từ dịch do ong tiết ra.

- Enzim(men): Trong mật ong có các loại men như: investaza, diastaza và ít hơn là lopaza, catalaza, peoxydaza. Diastaza chuyển hoá tinh bột và dextrin thành đường mía, invectaza biến đổi sacaro thành đường gluco và fructo còn catalaza thì phân huỷ các peroxit.

- Acid: Trong mật ong có thể chứa tới 0,13% acid bao gồm các loại acid formic, oxalic, xitric, lactic….

- Chất khoáng: Trong mật có các chất khoáng sau: Kali, natri, canxi, magiê, sắt, đồng, phốt pho, lưu quỳnh, iốt và các nguyên tố có ít lượng hơn đó là nhôm, chì kẽm, mangan… Hàm lượng chất khoáng trong mật ong tự nhiên vào khoảng 0,03 đên, 2%. Mật có màu đậm bao giờ cũng có nhiều khoáng chất hơn mật có màu nhạt.

- Vitamin: Hàm lượng vitamin trong mật ong không nhiều nhưng có nhiều loại như là:B1, B2, B6, E, PP, F, K, H … Các hỗn hợp vitamin này ở dạng hoạt tính của thiên nhiên nên chỉ cần dùng lượng ít đã có hiệu quả tốt đối với con người. Nguồn gốc vitamin là do phấn hoa lẫn vào.

- Chất màu: Chất màu tạo ra màu sắc của mật ong từ màu vàng sáng đến màu hổ phách rồi nâu sẫm. Màu sắc của mật tuỳ thuộc vào nguồn gốc mật hoa mà có những màu sắc đặc trưng khác nhau.

- Chất thơm và hương vị tự nhiên: Trong mật ong có chất thơm là do các este có trong mật tạo ra và mỗi loại mật có một hương vị đặc trưng riêng. Màu sắc và hương vị của mật ong không phải là yếu tố quyết định thành phần dinh dưỡng của mật ong nhưng lại quyết định đến giá bán mật. Nhìn chung, người tiêu dùng ưa mật màu sáng, hương thơm dịu và những loại mật này thường có giá bán cao hơn.

- HMF (Hydro methyl fufural): là chất độc hình thành do đun nóng mật ong, mật ong bị lên men hoặc bảo quản lâu ngày ở nhiệt độ cao. HMF được hình thành do sự phân huỷ của đường gluco với tác động của nhiệt. Mật ong sau khi thu hoạch bảo quản ở nhiệt độ 25-30oC trong thời gian 100 -300 ngày thì HMF sẽ là 40mg/kg. Nếu mật ong bảo quản trong thùng phuy đặt ngoài nắng với nhiệt độ lên đến 40-50oC thì 10 đến 40 ngày sau hàm lượng HMF sẽ đạt đến 40mg/kg.

- Các loại mật ong: tuỳ thuộc vào nguồn gốc của mật ong mà người ta có thể chia ra làm 3 loại chính: 

  • Mật hoa là loại mật mà con ong khai thác từ hoa như là: cà phê, nhản, vải thiều, chôm chôm, bọ xít hôi, hướng dương rừng, táo,…
  • Mật tiết là loại mật được tiết ra từ lá, thân , trái như là: cao su, keo lá tràm, cây điều…
  • Mật honeydew là loại mật tiết ra từ những con côn trùng như là: rầy mềm, rệp sáp … 

2.  Thu hoạch mật ong.

Việc khai thác mật ong phụ thuộc vào địa điểm và thế đàn ong. Đối với đàn ong mạnh có lượng ong lớn, ong phủ đầy cầu thì số lượng ong thợ đi làm việc ngoài trời nhiều hơn dẫn đến năng suất cao hơn. Ngày nay, nguồn mật tại Tỉnh Đồng Nai và các tỉnh lân cận như: Bình Phước, Đắc Nông, Đắc Lắc, Gia Lai và các tỉnh Đồng bằng sông cửu long kéo dài từ tháng 10 cho đến tháng 6 năm sau. Vì lẽ đó, người nuôi ong cần có kế hoạch dài hạn để khai thác hết tiềm năng nguồn mật sẵn có này để tăng thêm lợi nhuận trong quá trình nuôi dưỡng đàn ong.

Việc khai thác mật được tiến hành khi có 2/3 lỗ tổ trên cầu đã được vít nắp hoàn toàn có như vậy hàm lượng nước trong mật ong thấp và chất lượng mật mới được đảm bảo. Khi khai thác cần phải tiến hành vào buổi sáng để mật đặc hơn vì không lẫn mật hoa mới lấy về trong ngày. Dùng máy quay mật loại hướng tâm 12 cầu để ấu trùng không bị văng ra. Trước khi quay phải rũ hết ong bám trên bánh tổ rồi dùng dao cắt vít nắp bằng cách đưa dao từ dưới lên để không làm vỡ bánh tổ. Đặt các cầu đã cắt nắp vào trong thùng quay và quay đều tay với tốc độ tăng dần để mật văng ra khỏi ô lăng, sau đó trả các cầu đã quay mật xong trở lại đàn cũ để ong tiếp tục nuôi dưỡng ấu trùng và tiếp tục trữ mật.

3. Sơ chế và nâng cao chất lượng mật ong.

3.1 Lọc mật và loại bỏ tạp chất

Mật ong mới quay xong thường lẫn nhiều tạp chất như là: ấu trùng, xác ong, cát bụi và các mẫu sáp ong … Cần phải tiến hành lọc mật để mật được sạch và không bị hỏng. Để lọc mật người ta dùng rây bằng loại thép không rỉ có mắt lưới từ 8-32 lỗ/cm2 để lọc mật thường thì lọc thô trước sau đó mới lọc tinh tại các công ty.

3.2 Tách nước trong mật ong

Thông thường mật ong được khai thác từ các trại có hàm lượng nước > 20%,điều kiện bảo quản mật rất khó khăn do mật bị lên men và bị chua làm chất lượng mật giảm thấp không đảm bảo cho tiêu dùng và cho xuất khẩu. Để duy trì chất lượng sản phẩm một trong những giải pháp được sử dụng phương pháp lọc phiếm để tách nước trong mật ra. Giải pháp này có ưu điểm là chất lượng mật không thay đổi đảm bảo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu với hàm lượng nước <19%

3.3 Diệt men trong mật ong

Trong mật có một số men, nếu mật có thuỷ phần >20% trong quá trình bảo quản mật sẽ bị lên men và bị chua. Mật càng loãng và mật bị kết tinh thì quá trình lên men càng nhanh vì trong phần kết tinh mật lên men ít nhưng phần lỏng thì có độ thuỷ phần quá cao 22%-23% sẽ bị lên men.Việc diệt men trong mật là rất cần thiết để đảm bảo cho mật ong không giảm chất lượng trong quá trình bảo quản lâu.

Phương pháp diệt men: Đun nóng mật lên 70-78oC trong vài phúc sau đó làm lạnh thật nhanh xuống đến 25oC với phương pháp này men bị diệt nhưng chất lượng mật vẫn được giữ nguyên và mật ong được xử lý cũng lâu bị kết tinh.

3.4 Mật ong kết tinh và cách phá kết tinh

Kết tinh mật ong là hiện tượng mật ong từ dạng thể lỏng chuyển sang dạng có thể hạt. Có 2 dạng kết tinh là kết tinh toàn phần và từng phần. Nhiều người tiêu dùng có quan niệm sai lầm rằng mật kết tinh là mật bị hỏng hoặc mật cho ăn đường. Thực ra mật ong kết tinh là một quá trình tự nhiên không làm ảnh hưởng đến chất lượng mật. Có 3 dạng kết tinh: kết tinh hạt to trên 0,5mm, kết tinh hạt dưới 0,5mm và kết tinh mịn như mở nước.Mật ong kết tinh là do các phôi mầm kết tinh (tinh thể đường) có sẵn trong mật ong hoặc trong đồ chứa. Mật ong có hàm lượng đường gluco càng cao thì kết tinh càng nhanh và ở nhiệt độ  thấp từ 14 - 20oC mật kết tinh nhanh nhất. Do vậy thùng chứa mật phải thật sạch, khi thấy mật kết tinh cần phải phá kết tinh với phương pháp đun cách thủy với nhiệt độ 40oC trong vòng 30 phút. Đối với những loại mật  mật kết tinh nên đóng gói trong những chai lọ có miệng rộng để việc sử dụng được dễ dàng.

4. Đóng gói và bảo quản mật ong:

Mật ong là một loại thực phẩm cao cấp do vậy việc bảo quản tại các trại nuôi ong rất khó khăn trong điều kiện nhiệt độ trung bình hằng năm ở nước ta rất cao làm ảnh hưởng đến chất lượng mật ong. Vì thế, người nuôi ong không nên trữ mật quá lâu tại kho mà phải bán ngay để thu hồi vốn. Mật đã được lọc chứa trong phuy đựng thực phẩm, bồn inox và phải có nắp nay để việc hút ẩm từ không khí. Các dụng cụ trữ mật phải được đặt ở nơi thoáng mát (nếu bảo quản lâu phải bảo quản ở nhiệt độ dưói 10oC). Mật ong đạt tiêu chuẩn có màu sắc và hương vị đặc trưng, độ thuỷ phần 21% sau nhiều tháng bảo quản mật ong sẽ bị lên men và bị chua. Thể hiện trên miệng chai có nhiều bọt, màu mật trở nên sẫm, nếm có vị chua, nếu để quá lâu còn có vị cay (HMF cao) là mật đã hỏng. Một số mật thu hoạch sau vài tháng sẽ chuyển sang dạng tinh thể gọi là mật kết tinh vì trong mật có tỷ lệ đường gluco cao.

5.  Công dụng của mật ong.

Mật ong là một loại thực phẩm cao cấp được nhiều người tiêu dùng trong nước và quốc tế ưa chuộng và đánh giá cao vì nó là sản phẩm của tự nhiên.Tại các nước phát triển phần lớn mật ong được dùng như một sản phẩm thế đường mía. Mật ong dùng cho mục đích này ở dạng lỏng hoặc kết tinh, dạng mật ong bánh tổ. Mật được đóng trong lọ nhỏ có miệng rộng và nông. Có thể dùng mật ong  cho vào nước trà xanh, trà đắng như một loại nước giải khát.

Mật ong có thể dùng trong các món ăn như là: cho mật ong vào trong bánh mỳ và bánh ngọt làm cho bánh có khả năng mịn hơn, giữ được lâu và có màu sắc đẹp mắt. Ngoài ra mật còn dùng trong chế biến các sản phẩm bánh kẹo và trên bao bì của các sản phẩm này đều ghi rõ thành phần có mật ong thì sản phẩm sẽ bán chạy hơn. Bên cạnh đó, trong mỹ phẩm mật ong là thành phần chính có tác dụng giữ ẩm, làm mịn da và nuôi tóc. Hiện nay có nhiều nước đã sản xuất nhiều loại xà phòng tắm và dầu gội đầu có chứa mật ong.

Các tin liên quan:

Last Updated ( Wednesday, 03 February 2010 23:03 )  

Dong Nai Honey Video



Get the Flash Player to see this player.

time2online Joomla Extensions: Simple Video Flash Player Module

Tư Vấn Trực Tuyến

Khách Online

     We have 83 guests online

Mục Tiêu Công Ty

Xây dựng thương hiệu “APIDONA” trên thị trường trong nước và Quốc tế. Tiến hành xuất khẩu mật ong ở dạng thành phẩm.
Thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Ổn định và nâng cao chất lượng sống Chi tiết...

Chiến Lược Kinh Doanh

Chất lượng sản phẩm là yếu tố “Sống còn” của Ngành ong Đồng Nai, với Slogan “Vì sức khỏe của Bạn”.
Công ty cũng cố và duy trì hoạt động của Câu lạc bộ “Những Người nuôi ong sạch”, dần dần đưa các Thành viên trong CLB trở thành Cổ đông của Công ty. Chi tiết...

DONGNAIHONEY

Năm 1978, sự ra đời của Công ty ong mật Đồng Nai đã đánh dấu một bước phát triển mới của ngành nuôi ong tại Đồng Nai. Bởi, bắt đầu từ đây, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã có hẳn một doanh nghiệp chuyên tổ chức sản xuất kinh doanh, đầu tư Chi tiết...